Kinh Vu Lan báo hiếu- Nhà văn Hoàng Ngọc Sơn ( st )

CÁC BẠN THÂN MẾN! *** Lễ Vu Lan là dịp nhắc nhở các thế hệ con cháu nhớ tới công ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, ông bà, tổ tiên cũng ...

CÁC BẠN THÂN MẾN!
***
Lễ Vu Lan là dịp nhắc nhở các thế hệ con cháu nhớ tới công ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, ông bà, tổ tiên cũng như những đóng góp to lớn của các anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước; đồng thời giúp chúng ta tiếp cận được những ý nghĩa giáo dục đầy nhân bản của văn hóa Phật giáo - đó là: “Từ, bi, hỷ, xả”, “vô ngã, vị tha”, “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”...
Nhân Mùa Lễ Vu Lan, tôi xín trân trọng gửi tới các bạn Bộ Kinh Vu Lan và Báo hiếu.
Nam mô Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam mô Đại hiếu Mục Kiền Liên Bồ-tát!
*****
PHẬT NÓI
KINH VU LAN BỒN
*
TA TỪNG NGHE LỜI TẠC NHƯ VẬY:
Một thuở nọ Thế Tôn an trụ,
Xá Vệ thành Kỳ Thụ Viên trung,
Mục Liên mới đặng Lục thông,
Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân.
Công dưỡng dục thâm ân dốc trả,
Nghĩa sinh thành đạo cả mong đền,
Làm con hiếu hạnh vi tiên,
Bèn dùng huệ nhãn dưới trên kiếm tìm.
Thấy vong mẫu sinh làm ngạ quỉ,
Không uống ăn tiều tụy hình hài,
Mục Liên thấy vậy bi ai,
Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm.
Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu,
Đặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu,
Thấy cơm, mẹ rất lo âu,
Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.
Lòng bỏn xẻn tiền căn chưa dứt,
Sợ chúng ma cướp giật của bà,
Cơm chưa đưa đến miệng đà,
Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu.
Thấy như vậy âu sầu thê thảm,
Mục Kiền Liên bi cảm xót thương,
Mau mau về đến giảng đường,
Bạch cùng Sư phụ tầm phương giải nàn.
Phật mới bảo rõ ràng căn cội:
Rằng mẹ ông gốc tội rất sâu,
Dầu ông thần lực nhiệm màu,
Một mình không thể ai cầu đặng đâu.
Lòng hiếu thảo của ông dầu lớn,
Tiếng vang dồn thấu đến Cửu Thiên,
Cùng là các bậc thần kỳ,
Tà ma ngoại đạo, bốn vì Thiên Vương.
Cộng ba cõi sáu phương tụ tập,
Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi,
Muốn cho cứu đặng mạng người,
Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng.
Pháp cứu tế Ta toan giảng nói,
Cho mọi người thoát khỏi ách nàn,
Bèn kêu Mục Thị đến gần,
Truyền cho Diệu pháp ân cần thiết thi.
Rằm tháng Bảy là ngày Tự Tứ,
Mười phương Tăng đều dự lễ này,
Phải toan sắm sửa chớ chầy,
Thức ăn trăm món, trái cây năm màu.
Lại phải sắm giường nằm nệm lót,
Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang dầu,
Món ăn tinh sạch báu mầu,
Đựng trong bình bát vọng cầu kính dâng.
Chư Đại Đức mười phương thọ thực,
Trong bảy đời sẽ đặng siêu thăng,
Lại thêm cha mẹ hiện tiền,
Đặng nhờ phúc đức tiêu khiên ách nàn.
Vì ngày ấy Thánh Tăng đều đủ,
Dù ở đâu cũng tựu hội về,
Như người thiền định sơn khê,
Tránh điều phiền não chăm về Thiền Na.
Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả,
Công tu hành nguyện thỏa vô sinh,
Hoặc người thọ hạ kinh hành,
Chẳng ham quyền quí ẩn danh lâm tòng.
Hoặc người đặng lục thông tấn phát,
Và những hàng Duyên Giác, Thanh Văn,
Hoặc Chư Bồ-tát mười phương,
Hiện hình làm Sãi ở gần chúng sinh.
Đều trì giới rất thanh, rất tịnh,
Đạo đức dày chính định chân tâm,
Tất cả các bậc Thánh, phàm,
Đồng lòng thọ lĩnh bát cơm Lục hòa.
Người nào có sắm ra vật thực,
Đặng cúng dường Tự tứ Tăng thời,
Hiện tiền phụ mẫu của người,
Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn.
Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi,
Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên,
Như còn cha mẹ hiện tiền
Nhờ đó cũng đặng bách niên thọ trường.
Như cha mẹ bảy đời quá vãng,
Sẽ hóa sinh về cõi Thiên cung,
Người thì tuấn tú hình dung,
Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu thân.
Phật dạy bảo mười phương Tăng chúng,
Phải tuân theo thể thức sau này:
Trước khi thọ thực đàn chay,
Phải cầu chú nguyện cho người tín gia.
Cầu thất thế mẹ cha thí chủ,
Định tâm thần quán đủ đừng quên,
Cho xong định ý hành thiền,
Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dâng.
Khi thọ dụng, nên an vật thực,
Trước Phật đài hoặc tự tháp trung,
Chư Tăng chú nguyện viên dung,
Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa.
Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt,
Mục Liên cùng Bồ-tát Chư Tăng,
Đồng nhau tỏ dạ vui mừng,
Mục Liên cũng hết khóc thương rầu buồn.
Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy,
Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan,
Mục Liên bạch với Phật rằng:
Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn.
Lại cũng nhờ oai thần Tam Bảo,
Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra,
Như sau đệ tử xuất gia.
Vu Lan Bồn pháp dùng mà độ sinh.
Độ cha mẹ còn đương tại thế,
Hoặc bảy đời có thể đặng không?
Phật rằng: lời hỏi rất thông,
Ta vừa muốn nói, con vùng hỏi theo.
Thiện nam tử, Tỳ Kheo nam nữ,
Cùng Quốc vương, Thái tử, Đại thần,
Tam công, Tể tướng, Bá quan,
Cùng hàng lê thứ vạn dân cõi trần.
Như chí muốn đền ơn cha mẹ,
Hiện tại cùng thất thế tình thâm,
Đến Rằm tháng Bảy mỗi năm,
Sau khi kiết hạ Chư Tăng tựu về.
Chính ngày ấy Phật Đà hoan hỷ,
Phải sắm sanh bá vị cơm canh,
Đựng trong bình bát tinh anh,
Chờ giờ Tự Tứ, chúng Tăng cúng dường.
Đặng cầu nguyện song đường trường thọ,
Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi,
Cùng cầu thất thế đồng thì,
Lìa nơi ngạ quỉ, sinh về nhân thiên.
Đặng hưởng phúc nhân duyên vui đẹp,
Lại xa lìa nạn khổ cực thân,
Môn sinh Phật tử ân cần,
Hạnh tu hiếu thuận phải cần, phải chuyên.
Thường cầu nguyện thung huyên an hảo,
Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sinh,
Ngày Rằm tháng Bảy mỗi năm,
Vì lòng hiếu thảo ân thâm phải đền.
Lễ cứu tế chí thành sắp đặt,
Ngõ cúng dường Chư Phật, Chư Tăng,
Ấy là báo đáp thù ân,
Sinh thành dưỡng dục song thân buổi đầu.
Đệ tử Phật lo âu gìn giữ,
Mới phải là Thích tử Thiền môn,
Vừa nghe dứt Pháp Lan Bồn,
Môn sinh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan.
Mục Liên với bốn ban Phật tử,
Nguyện một lòng tín sự phụng hành,
Trước là trả nghĩa sinh thành,
Sau là cứu vớt chúng sinh muôn loài.
Nam mô Đại hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát! (3 lần)
***
PHẬT NÓI
KINH BÁO ĐÁP CÔNG ƠN CHA MẸ
*
TA TỪNG NGHE LỜI TẠC NHƯ VẬY:
Một thuở nọ Thế Tôn an trụ,
Xá Vệ Thành Kỳ Thụ Viên trung,
Chư Tăng câu hội rất đông,
Tính ra đến số hai mươi tám ngàn.
Lại cũng có các hàng Bồ-tát,
Hội tại đây đủ mặt thường thường,
Bấy giờ Phật lại lên đường,
Cùng hàng đại chúng Nam phương tiến hành.
Đáo bán lộ đành rành mắt thấy,
Núi xương khô bỏ đấy lâu đời,
Thế Tôn bèn vội đến nơi,
Lạy liền ba lạy, rồi rơi giọt hồng.
Đức A Nan trong lòng ái ngại,
Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương,
Vội vàng xin Phật dạy tường:
“…Thầy là Từ Phụ ba phương, bốn loài.
Ai ai cũng kính Thầy dường ấy,
Cớ sao thầy lại lạy xương khô?”
Phật rằng: trong các môn đồ,
Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công.
Bởi chưa biết đục trong chưa rõ,
Nên vì ngươi Ta tỏ đuôi đầu,
Đống xương dồn dập bấy lâu,
Cho nên trong đó biết bao cốt hài.
Chắc cũng có ông bà cha mẹ,
Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sinh,
Luân hồi sinh tử, tử sinh,
Lục thân đời trước, thi hài còn đây!
Ta lễ bái kính người tiền bối,
Và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa,
Đống xương hỗn tạp chẳng vừa,
Không phân trai gái bỏ bừa khó coi!
Người chịu khó xét soi cho kỹ,
Phân làm hai bên nữ, bên nam,
Để cho phân biệt cốt phàm,
Không còn lộn lạo nữ, nam chất chồng!
Đức A Nan trong lòng tha thiết,
Biết làm sao phân biệt khỏi sai,
Ngài bèn xin Phật tỏ bày,
Vì khó chọn lựa gái trai lúc này!
Còn sinh tiền dễ bề sắp đặt,
Cách đứng đi ăn mặc phân minh,
Chớ khi rã xác tiêu hình,
Xương ai như nấy, khó nhìn khó phân!
Phật mới bảo: A Nan nên biết,
Xương nữ nam phân biệt rõ ràng,
Đàn ông xương trắng nặng oằn,
Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn!
Ngươi có biết cớ sao đen nhẹ,
Bởi đàn bà sinh đẻ mà ra,
Sinh con ba đấu huyết ra,
Tám hộc, bốn đấu sữa hòa nuôi con!
Vì cớ ấy hao mòn thân thể,
Xương đàn bà, đen nhẹ hơn trai!
A Nan nghe vậy bi ai,
Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sinh!
Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo,
Phương pháp nào báo hiếu song thân,
Thế Tôn mới bảo lời rằng:
Vì ngươi ta sẽ phân trần khá nghe!
Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc,
Sinh đặng con mười tháng cưu mang,
Tháng đầu, thai đậu tợ sương,
Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường.
Tháng thứ nhì dường như sữa đặc.
Tháng thứ ba như cục huyết ngưng.
Bốn tháng đã tượng ra hình.
Năm tháng ngũ thể hiện sinh rõ ràng.
Tháng thứ sáu lục căn đều đủ.
Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương.
Lại thêm đủ lỗ chân lông.
Cộng chung đến số tám mươi bốn ngàn.
Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ.
Chín tháng thì đầy đủ vóc hình.
Mười tháng là đúng kỳ sinh.
Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn.
Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu,
Nó vẫy vùng đạp quấu lung tung,
Làm cho cha mẹ hãi hùng,
Sự đau, sự khổ không cùng tỏ phân!
Khi sinh đặng muôn phần khoái lạc,
Cũng ví như được bạc, được vàng.
Thế Tôn lại bảo A Nan:
Ơn cha, nghĩa mẹ mười phần phải tin.
Điều thứ nhất giữ gìn thai giáo,
Mười tháng trường chu đáo mọi bề.
Thứ hai sinh đẻ gớm ghê,
Chịu đau, chịu khổ mỏi mê trăm phần.
Điều thứ ba, thâm ân nuôi dưỡng,
Cực đến đâu, bền vững chẳng lay.
Thứ tư ăn đắng nuốt cay,
Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con.
Điều thứ năm lại còn khi ngủ,
Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con.
Thứ sáu, sú nước nhai cơm,
Miễn con no ấm chẳng màng gớm ghê.
Điều thứ bảy không chê ô uế,
Giặt đồ dơ của trẻ không phiền.
Thứ tám chẳng nỡ chia riêng,
Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo.
Điều thứ chín miễn con sung sướng,
Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam.
Tính sao có lợi thì làm,
Chẳng màng tội lỗi, bị giam bị cầm!
Điều thứ mười chẳng ham chau chuốt,
Dành cho con các cuộc thanh nhàn,
Thương con như ngọc như vàng,
Ơn cha, nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn!
Phật lại bảo: A Nan nên biết,
Trong chúng sinh tuy thiệt phẩm người,
Mười phần mê muội cả mười,
Không tường ơn trọng đức dày song thân.
Chẳng kính mến, quên ơn, trái đức,
Không xót thương dưỡng dục cù lao,
Ấy là bất hiếu mặc giao,
Thì những người ấy đời nào nên thân!
Mẹ sinh con cưu mang mười tháng,
Cực khổ dường gánh nặng trên vai,
Uống ăn chẳng đặng vì thai,
Cho nên thân thể, hình hài kém suy!
Khi sinh sản hiểm nguy chi xiết,
Sinh đặng rồi tinh huyết dầm dề,
Ví như thọc huyết trâu, dê,
Nhất sinh thập tử nhiều bề gian nan!
Con còn nhỏ phải năng săn sóc,
Ăn đắng cay, bùi ngọt phần con,
Phải tắm, phải giặt, rửa trôn,
Biết rằng dơ dáy mẹ không ngại gì!
Nằm phía ướt, con nằm phía ráo,
Sợ cho con ướt áo, ướt chăn,
Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân,
Ắt con phải chịu trăm phần thảm thương.
Trọn ba năm bú nương sữa mẹ,
Thân gầy mòn nào nệ với con,
Đến khi vừa được lớn khôn,
Mẹ cha dạy bảo cho con vỡ lòng.
Cho đi học mở thông trí tuệ,
Dựng vợ chồng có thế làm ăn,
Ước mong con được nên thân,
Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi.
Con ốm đau tức thì lo chạy,
Dầu tốn hao cách mấy cũng đành,
Khi con căn bệnh đặng lành,
Thì cha mẹ mới an thần định tâm.
Công dưỡng dục sánh bằng non biển,
Cớ sao con chẳng biết ơn này,
Hoặc khi lầm lỗi bị rầy,
Chẳng tuân thì chớ lại bày ngỗ ngang.
Hờn cha mẹ phùng mang trợn mắt,
Khinh trưởng huynh nộ nạt thê nhi,
Bà con chẳng kể ra chi,
Không tuân Sư phụ lễ nghi chẳng tường!
Lời dạy bảo song đường không kể,
Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng,
Trái ngang chống báng mọi đàng,
Ra vào lui tới mắng càn người trên.
Vì lỗ mãng tính quen làm bướng,
Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn,
Lớn lên theo lối hung hăng,
Đã không nhẫn nhịn lại càng hành hung.
Bỏ bạn lành theo cùng chúng dữ,
Nết tập quen làm sự trái ngang,
Nghe lời dụ dỗ quân hoang,
Bỏ cha, bỏ mẹ trốn sang quê người!
Trước còn tập theo thời theo thế,
Thân lập thân tìm kế sinh nhai,
Hoặc đi buôn bán kiếm lời,
Hoặc vào quân lính với với đời lập công.
Vì ràng buộc đồng công, mối nợ,
Hoặc trở ngăn vì vợ, vì con.
Quên cha, quên mẹ tình thâm,
Quên xứ, quên sở lâu năm không về.
Ấy là nói những người có chí,
Chớ phần nhiều du hý mà thôi.
Sau khi phá hết của rồi,
Phải tìm phương kế kiếm đôi đồng xài.
Theo trộm cướp hoặc là bài bạc,
Phạm tội hình, tù ngục phải vương.
Hoặc khi mang bệnh giữa đường,
Không người nuôi dưỡng bỏ thân ngoài đồng.
Hay tin dữ, bà con cô bác,
Cùng cha mẹ xao xác buồn rầu,
Thương con than khóc ưu sầu,
Có khi mang bệnh đui mù vấn vương!
Hoặc bệnh nặng vì thương quá lẽ,
Phải bỏ mình làm quỷ giữ hồn,
Hoặc nghe con chẳng lo lường,
Trà đình, tửu điếm, phố phường ngao du.
Cứ mải miết với đồ bất chính,
Chẳng mấy khi thần tỉnh mộ khang,
Làm cho cha mẹ than van,
Sinh con bất hiếu phải mang tiếng đời!
Hoặc cha mẹ đến hồi già yếu,
Không ai nuôi thiếu thốn mọi điều,
Ốm đau đói rách kêu rêu,
Con không cấp dưỡng bỏ liều chẳng thương!
Phận con gái còn nương cha mẹ,
Thì có lòng hiếu để thuận hòa,
Cần lao phục dịch trong nhà,
Dễ sai dễ khiến hơn là nam nhi.
Song đến lúc tòng phu xuất giá,
Lo bên chồng chẳng sá bên mình,
Trước còn lai vãng viếng thăm,
Lần lần nguội lạnh biệt tăm, biệt nhà!
Quên dưỡng dục song thân ơn trọng,
Không nhớ công mang nặng đẻ đau,
Chẳng lo báo bổ cù lao,
Làm cho cha mẹ buồn rầu thảm thay!
Nếu cha mẹ rầy la quở mắng,
Trở sinh lòng hờn giận chẳng kiêng,
Chớ chi chồng đánh liên miên,
Thì cam lòng chịu, chẳng phiền chẳng than!
Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ,
Nói không cùng nghiệp dữ phải mang,
Nghe Phật chỉ rõ mọi đường,
Trong hàng đại chúng lòng càng thảm thay!
Gieo xuống đất, lấy cây lấy củi,
Đập vào mình, vào mũi, vào hông,
Làm cho các lỗ chân lông,
Thảy đều rớm máu, ướt đầm cả thân!
Đến hôn mê tâm thần bất định,
Một giây lâu mới tỉnh than rằng:
Bọn ta quả thật tội nhân,
Xưa nay chẳng rõ không hơn người mù!
Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc,
Ruột gan dường như nát như tan,
Tội tình khó nỗi than van,
Làm sao trả đặng muôn ngàn ơn sâu.
Trước Phật tiền ai cầu trần tố,
Xin Thế Tôn mẫn cố bi lân,
Làm sao báo đáp thù ân,
Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình.
Phật bèn dụng phạm thinh sáu món,
Phân rõ cùng Đại chúng lắng nghe,
Ơn cha, nghĩa mẹ nặng nề,
Không phương báo đáp cho vừa sức đâu!
Ví có người ơn sâu dốc trả,
Cõng mẹ cha tất cả hai vai.
Giáp vòng hòn núi Tu Di,
Đến trăm ngàn kiếp ơn kia chưa đền.
Ví có người gặp cơn đói rét,
Nuôi song thân dâng hết thân này,
Xương nghiền thịt nát phân thây,
Trải trăm ngàn kiếp ơn đây chưa đồng.
Ví có người vì công sinh dưỡng,
Tự tay mình khoét thủng song ngươi,
Chịu thân mù tối như vầy,
Đến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đâu.
Ví có người cầm dao thật bén,
Mổ bụng ra, rút hết tâm can,
Huyết ra khắp đất chẳng than,
Đến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng!
Ví có người dùng ngàn mũi nhọn,
Đâm vào mình bất luận chỗ nào,
Tuy là sự khó biết bao,
Trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền!
Ví có người vì ơn dưỡng dục,
Tự treo mình cúng Phật thế đèn,
Cứ treo như vậy trọn năm,
Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền!
Ví có người xương nghiền ra mỡ,
Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình,
Xương tan thịt nát chẳng phiền,
Đến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng!
Ví có người vì công dưỡng dục,
Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan,
Làm cho thân thể tiêu tan,
Đến trăm ngàn kiếp ơn sâu chưa đền!
Nghe Phật nói thảy đều kinh hãi,
Giọt lệ tràn khó nỗi cầm ngăn,
Đồng thinh bạch Phật lời rằng:
Làm sao trả đặng thâm ân song đường?
Phật mới bảo các hàng Phật tử,
Phải lắng nghe Ta chỉ sau này,
Các ngươi muốn đáp ơn dày,
Phải toan biên chép Kinh đây lưu truyền.
Vì cha mẹ trì chuyên phúng tụng,
Cùng ăn năn những tội lỗi xưa,
Cúng dường Tam Bảo sớm trưa,
Cùng là tu phúc chẳng chừa món chi.
Rằm tháng Bảy đến ngày Tự Tứ,
Thập phương Tăng đều dự lễ này,
Sắm sanh lễ vật đủ đầy,
Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng.
Đặng cầu nguyện song đường trường thọ,
Hoặc sinh về tịnh độ an nhàn,
Ấy là báo đáp thù ân,
Sinh thành dưỡng dục song thân của mình.
Mình còn phải cần chuyên trì giới,
Pháp Tam quy Ngũ giới giữ gìn,
Những lời ta dạy đinh ninh,
Khá nên y thử phụng hành đừng sai.
Được như vậy mới là khỏi tội,
Bằng chẳng thì ngục tối phải sa,
Trong năm đại tội kể ra,
Bất hiếu thứ nhất, thật là trọng thay!
Sau khi chết bị đầy vào ngục,
Ngục Vô gián, cũng gọi A Tỳ,
Ngục này trong núi Thiết Vi,
Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề.
Trong ngục này hàng ngày lửa cháy,
Đốt tội nhân hết thảy thành than,
Có lò nấu sắt cho tan,
Rót vào trong miệng tội nhân hành hình.
Một vá đủ cho người thọ khổ,
Lột thịt da đau thấu tâm can,
Lại có chó sắt, rắn gang,
Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhân!
Ở trong ngục có giường bằng sắt,
Bắt tội nhân nằm khắp đó xong,
Rồi cho một ngọn lửa hồng,
Nướng quay chúng nó da phồng thịt thau!
Móc bằng sắt, thương đao gươm giáo,
Trên không trung đổ tháo như mưa,
Gặp ai chém nấy chẳng chừa,
Làm cho thân thể nát nhừ như tương!
Những hình phạt vô phương kể hết,
Mỗi ngục đều có cách trị riêng,
Như là xe sắt phân thây,
Chim ưng mổ bụng, trâu cày lưỡi le.
Chớ chi đặng chết liền rất đỡ,
Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân,
Ngày đêm chết sống muôn lần,
Đến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây!
Sự hành phạt tại A Tỳ ngục,
Rất nặng nề ngỗ nghịch song thân,
Chúng ngươi đều phải ân cần,
Thừa hành các việc phân trần khoản trên.
Nhất là phải Kinh này in chép,
Truyền bá ra cho khắp Đông Tây,
Như ai chép một quyển này,
Ví bằng đặng thấy một vì Thế Tôn!
Nếu in đặng ngàn muôn quyển ấy,
Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên,
Do theo nguyện lực tùy duyên,
Chư Phật ủng hộ y như sở nguyền.
Cha mẹ đặng xa miền khốc lãnh,
Lại hóa sinh về cảnh Thiên cung.
Khi lời Phật giảng vừa xong,
Khắp trong tứ chúng một lòng kính vâng.
Lại phát nguyện thà thân này nát,
Ra bụi tro, muôn kiếp chẳng nài,
Dầu cho lưỡi kéo trâu cày,
Đến trăm ngàn kiếp lời Thầy không quên.
Ví như bị bá thiên đao kiếm,
Khắp thân này đâm chém phân thây,
Hoặc như lưới trói thân này,
Trải trăm ngàn kiếp lời Thầy chẳng sai.
Dẫu thân này bị cưa, bị chặt.
Phân chia ra muôn đoạn rã rời,
Đến trăm ngàn kiếp như vầy,
Chúng con cũng chẳng trái lời Thầy khuyên.
Đức A Nan kiền thiền đảnh lễ,
Cầu Thế Tôn đặt để hiệu Kinh,
Ngày sau truyền bá chúng sinh,
Dễ bề phúng tụng, trì chuyên tu hành.
Phật mới bảo: A Nan nên biết,
Quyển kinh này quả thật cao xa,
Đặt tên "Báo Hiếu Mẹ Cha"
Cùng là "Ân Trọng" thật là chân kinh.
Các ngươi phải giữ gìn chu đáo,
Đặng đời sau y giáo phụng hành.
Sau khi Phật dạy rành rành,
Bốn ban Phật tử rất mừng, rất vui.
Thảy một lòng vâng theo lời Phật,
Và kính thành tin chắc vẹn tuyền,
Đồng nhau tựu tại Phật tiền,
Nhất tâm đảnh lễ rồi liền lui ra .
Nam mô Đại hiếu Mục Kiền Liên Bồ-tát! (3 lần)
***
SÁM VU LAN
Ðệ tử chúng con,
Vâng lời Phật dạy,
Ngày Rằm tháng Bảy,
Gặp hội Vu Lan,
Phạm vũ huy hoàng,
Ðốt hương đảnh lễ.
Mười phương Tam thế,
Phật, Pháp, Thánh hiền,
Noi gương Đức Mục Kiền Liên,
Nguyện làm con thảo,
Lòng càng áo não,
Nhớ nghĩa thân sinh,
Con đến trưởng thành,
Mẹ dày gian khổ,
Ba năm nhũ bộ,
Chín tháng cưu mang,
Không ngớt lo toan,
Quên ăn bỏ ngủ,
Ấm no đầy đủ,
Cậy có công cha,
Chẳng quản yếu già,
Sinh nhai lam lũ.
Quyết cùng hoàn vũ,
Phấn đấu nuôi con,
Giáo dục vuông tròn,
Ðem đường học đạo.
Ðệ tử ơn sâu chưa báo,
Hổ phận kém hèn,
Giờ này quỳ trước đài sen,
Chí thành cung kính,
Ðạo tràng thanh tịnh,
Tăng Bảo trang nghiêm.
Hoặc thừa Tự Tứ,
Hoặc hiện tham thiền,
Ðầy đủ thiện duyên,
Rũ lòng lân mẫn,
Hộ niệm cho:
Bảy kiếp cha mẹ chúng con,
Ðượm nhuần mưa pháp.
Còn tại thế: thân tâm yên ổn,
Phát nguyện tu trì.
Ðã qua đời: ác đạo xa lìa,
Chóng thành Phật quả.
Ngửa trông các đức Như Lai,
Khắp cõi hư không, từ bi gia hộ.
Nam mô Ðại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát! (3 lần)
***
SÁM MỤC LIÊN
Con quỳ lạy Phật Thích Ca,
Chứng minh đệ tử tên là Mục Liên.
Lòng con mộ đạo tu hiền,
Xuất gia theo Phật cầu nguyền hôm mai.
Nghe kinh Phật, thuyết bảy ngày,
Minh tâm kiến tính Như Lai trọn lành.
Lục thông đầy đủ nên danh,
Muốn tìm cha mẹ lòng thành gắng công.
Đền ơn cho bú, ẵm bồng,
Liền dùng đạo nhãn xem vòng thế gian.
Thấy vong mẹ khổ muôn ngàn,
Ốm gầy, đói khát trong đàng quỉ ma.
Mục Liên kêu mẹ khóc la,
Đau lòng thương mẹ, đọa sa Diêm đình.
Thanh Đề nhìn thấy con mình,
Mục Liên kêu mẹ hết tình gắng công.
Con ơi! Mẹ đói trong lòng,
Mục Liên nghe nói khóc ròng thở than.
Vội vàng trở lại thế gian,
Xới cơm một bát đem sang mẹ mừng.
Và cơm vào miệng nửa chừng,
Chén cơm hóa lửa phừng phừng thành than.
Mục Liên xem thấy kinh hoàng,
Trong lòng đau đớn, khóc than buồn tình.
Mẹ ơi! Niệm Phật độ mình,
Trở về lạy Phật cầu xin mẹ già.
Thích Ca Đức Phật phân qua,
Mẹ người tội nặng sâu xa nghiệp hình.
Ta truyền cứu tế pháp lành,
Cần cầu Tăng chúng tịnh thanh chú nguyền.
Cầu cho phụ mẫu hiện tiền,
Lục thân, quyến thuộc bình yên điều hòa.
Bảy đời phụ mẫu đã qua,
Về Trời hưởng phúc sáng lòa hào quang.
Vui chơi thong thả an nhàn,
Ngày Rằm tháng Bảy lập đàn trai tăng.
Sắm sanh trăm món đồ ăn,
Trái cây ngũ quả, hương đăng rõ ràng.
Chiếu, giường, bốn nước, mùng màn,
Dầu, đường, trà lá, bát vàng đựng cơm.
Những đồ vật quí bông thơm,
Thành tâm dọn tiệc, Lan Bồn phân minh.
Cúng dường Tam Bảo cầu kinh,
Chư Tăng tịnh giới giữ gìn nghiêm trang.
Cầu cho thí chủ trai đàn,
Tâm hành Thiền định, vái ban chúc nguyền.
Thanh Đề khổ ách hết liền,
Ngày Rằm tháng Bảy thành tiên về Trời.
Noi gương hiếu thảo đời đời,
Xót thương phụ mẫu hiện thời nuôi con.
Nhai cơm cho bú hao mòn,
Ơn sâu nghĩa nặng, thương con hết lòng.
Trời cao đất rộng mênh mông,
Biển hồ lai láng sánh đồng Thái Sơn.
Tu hành báo tử trọng ân,
Độ đời ba cõi sạch trơn trọn lành.
Mục Liên đại hiếu tu hành,
Báo ân phụ mẫu nên danh độ thời.
Nguyện cầu thí chủ khắp nơi,
Cửu huyền, thất tổ đồng thời vãng sinh.
Sen vàng chín phẩm nên danh,
Về nơi tịnh độ đến thành lạc bang.
Nguyện cho quốc thái dân an,
Khắp cùng pháp giới đạo tràng tịnh thanh.
Nguyện cùng hết thảy chúng sinh,
Đồng lo tu niệm vãng sinh sen vàng!

Nguồn: Nhà Văn Hoàng Ngọc Sơn ( st )

Bài Liên Quan

Tin Mới 2325039040122804697

Đăng nhận xét

emo-but-icon

Bài đăng và Bình luận

Tin Nóng

Bài Mới

Bình Luận

Đang theo dõi

Visitors

Flag Counter
item